Đang truy cập
Tổng truy cập
36
5,609,633
Chia sẻ chi phí – Thúc đẩy chuyển đổi xanh trong Nông nghiệp Vĩnh Long
Chuyển đổi xanh (CĐX) trong nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn mới. Quy mô sản xuất lớn hơn, cơ cấu nông nghiệp đa dạng hơn và yêu cầu thị trường khắt khe hơn làm cho bài toán xanh hóa nông nghiệp không còn dừng ở mô hình kỹ thuật riêng lẻ. Vấn đề hiện nay là phân bổ chi phí chuyển đổi như thế nào để nông hộ, Hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp và Nhà nước cùng tham gia, cùng chia sẻ rủi ro và cùng hưởng lợi. Chi phí xanh không chỉ gồm đầu tư thiết bị, mà còn bao gồm dữ liệu, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, đào tạo, tổ chức liên kết, xử lý phụ phẩm và bảo đảm sinh kế trong giai đoạn đầu chuyển đổi. Chúng ta cần xây dựng khung nhận diện chi phí CĐX, chuẩn hóa dữ liệu nông nghiệp sau sắp xếp, phát triển HTX thành đầu mối tiếp nhận tài chính xanh, lồng ghép tiêu chí Quản trị doanh nghiệp (ESG: Environmental Social Governance) phù hợp quy mô địa phương và thiết kế cơ chế đồng tài trợ theo ngành hàng chủ lực.
Nông nghiệp Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển với những yêu cầu sâu rộng, không gian phát triển rộng hơn, hội tụ nhiều lợi thế về lúa gạo, cây ăn trái, dừa, chăn nuôi, thủy sản, kinh tế biển và các mô hình nông nghiệp sinh thái. Quy mô mới mở ra dư địa phát triển lớn hơn, đồng thời cũng làm rõ hơn sự khác biệt giữa các vùng về điều kiện tự nhiên, cơ cấu sản xuất, trình độ tổ chức và khả năng tham gia thị trường. Điều này đặt ra yêu cầu quản lý nông nghiệp theo hướng tổng hợp hơn, có khả năng điều phối giữa vùng nguyên liệu, thị trường, hạ tầng, môi trường và sinh kế nông thôn.
Nông nghiệp đang chịu sức ép từ biến đổi khí hậu (BĐKH) và các tiêu chuẩn thị trường mới. Hạn hán, xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan, suy giảm chất lượng đất và nước đã tác động trực tiếp đến sản xuất. Trong khi đó, thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ngày càng xem trọng chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường trong toàn bộ chuỗi giá trị. Các cam kết quốc gia về tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính và phát triển bền vững cũng đang từng bước được cụ thể hóa thành tiêu chuẩn, quy định và chương trình hành động đối với ngành nông nghiệp.
Chuyển đổi xanh đối mặt với thách thức thiếu vốn đầu tư
Tăng năng suất và nâng cao chất lượng nông sản vẫn cần được duy trì. Sản xuất nông nghiệp phải thích ứng tốt hơn với BĐKH, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, đồng thời bảo vệ sinh kế của người dân nông thôn. Những yêu cầu này làm thay đổi quy trình sản xuất, phương thức liên kết giữa các chủ thể và nhu cầu huy động nguồn lực tài chính cho quá trình chuyển đổi của ngành.
Ở cấp quốc gia, định hướng CĐX trong nông nghiệp đã được xác lập qua nhiều văn bản quan trọng. Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH đặt nền tảng cho cách tiếp cận phát triển thuận thiên. Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 đến 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhấn mạnh định hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 đến 2030, tầm nhìn 2050 đặt yêu cầu xanh hóa các ngành kinh tế. Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 07/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam tạo cơ sở cho việc tái sử dụng phụ phẩm và giảm lãng phí tài nguyên. Riêng đối với ĐBSCL, Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” là căn cứ trực tiếp để các địa phương tổ chức lại quy trình canh tác, quản lý nước, giảm phát thải và liên kết tiêu thụ.
CĐX không thể được nhìn nhận đơn thuần như một yêu cầu kỹ thuật. Một mô hình lúa phát thải thấp, một vùng cây ăn trái có mã số vùng trồng, một HTX duy trì chứng nhận, một doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu xanh hay một chuỗi thủy sản có truy xuất nguồn gốc đều phát sinh chi phí trước khi lợi ích thị trường được ghi nhận. Các khoản chi này bao gồm thiết bị, quy trình sản xuất, đào tạo, dữ liệu, chứng nhận, kiểm định, truy xuất nguồn gốc, tổ chức liên kết, xử lý phụ phẩm và rủi ro thu nhập trong giai đoạn đầu chuyển đổi. Nếu phần lớn chi phí dồn về nông hộ và HTX, quá trình xanh hóa có thể làm gia tăng chênh lệch trong chuỗi giá trị, thay vì tạo ra động lực phát triển bền vững.
Tiếp cận CĐX trong nông nghiệp Vĩnh Long như một bài toán phân bổ chi phí giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị. Nội dung tập trung vào những nhóm chi phí nào đang phát sinh trong quá trình CĐX; các chi phí đó đang tác động đến nông hộ, HTX, doanh nghiệp, ngân hàng và Nhà nước và cơ chế chính sách nào có thể giúp chia sẻ chi phí hợp lý hơn, huy động được tài chính bền vững và hạn chế việc đẩy rủi ro tài chính xuống nhóm sản xuất quy mô nhỏ? Trên cơ sở đó, cần nhận diện các nhóm chi phí CĐX đang hình thành trong nông nghiệp.
NHẬN DIỆN CHI PHÍ CĐX TRONG NÔNG NGHIỆP
Để thiết kế cơ chế chia sẻ chi phí, cần bắt đầu từ việc xác định đúng quy mô và bản chất của các khoản chi phát sinh trong quá trình CĐX. Với Vĩnh Long, đây không còn là câu chuyện của một vài mô hình sản xuất thử nghiệm, mà là vấn đề chính sách ở cấp toàn ngành. Quy mô sản xuất lớn và đa dạng này đồng nghĩa với việc chi phí CĐX không tập trung ở một ngành hàng hay một nhóm chủ thể nhất định. Đối với lúa là chi phí thay đổi quy trình canh tác và giảm phát thải; đối với cây ăn trái và dừa là chi phí truy xuất nguồn gốc, duy trì mã số vùng trồng và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường; còn đối với các ngành hàng khác là yêu cầu đầu tư công nghệ, quản lý môi trường và tổ chức liên kết sản xuất. Nói cách khác, càng mở rộng diện tích và sản lượng, nhu cầu đầu tư cho các yếu tố “xanh” càng trở thành vấn đề mang tính hệ thống thay vì chỉ là lựa chọn của từng hộ sản xuất riêng lẻ.
Năm 2026, yêu cầu quản trị sản xuất theo tiêu chuẩn thị trường tiếp tục mở rộng, giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản ước 6 tháng đầu năm đạt 48,12% kế hoạch, tăng 3,38% so với cùng kỳ; trong đó nông nghiệp tăng 2,35%, lâm nghiệp tăng 0,34% và thủy sản tăng 5,2%, toàn tỉnh có 1.006 mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số với diện tích 33.960,12 ha; trong đó có 733 mã số vùng trồng xuất khẩu với diện tích 27.349,64 ha, 202 mã số vùng trồng nội địa với diện tích 6.610,48 ha và 71 cơ sở đóng gói xuất khẩu. Diện tích sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao đạt 81.405,67 ha, chiếm khoảng 10,51% diện tích sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh.
Các chỉ số trên cho thấy CĐX tại Vĩnh Long đã bước sang giai đoạn gắn chặt với yêu cầu quản trị chuỗi giá trị. Việc duy trì hơn một ngàn mã số vùng trồng, mở rộng diện tích sản xuất hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao không chỉ phản ánh kết quả phát triển sản xuất mà còn kéo theo nhu cầu đầu tư cho hệ thống dữ liệu, giám sát chất lượng, đào tạo nông dân, kiểm soát quy trình sản xuất và phối hợp giữa các chủ thể trong chuỗi. Đây chính là những khoản chi phí thường ít được nhìn thấy trong các mô hình hỗ trợ truyền thống nhưng lại quyết định khả năng duy trì sản xuất xanh và tiếp cận thị trường bền vững.
CĐX không nên chỉ được nhìn từ các kết quả cuối cùng như giảm phát thải, tiết kiệm nước, giảm sử dụng hóa chất, tái sử dụng phụ phẩm, nâng chất lượng nông sản hay mở rộng thị trường tiêu thụ. Đằng sau các kết quả này là hàng loạt khoản chi phí phát sinh đối với nông hộ, HTX, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Nếu không nhận diện đầy đủ, chính sách hỗ trợ dễ tập trung vào thiết bị hoặc mô hình trình diễn, trong khi các chi phí về dữ liệu, chứng nhận, giám sát, đào tạo, tổ chức liên kết và rủi ro thu nhập lại chưa được xử lý đúng mức.
Trong sản xuất lúa, chi phí CĐX xuất hiện ngay từ khâu thay đổi quy trình canh tác. Giảm lượng giống gieo sạ, quản lý nước, giảm phân bón hóa học, hạn chế đốt rơm rạ, ghi chép nhật ký đồng ruộng và tham gia mô hình phát thải thấp đều đòi hỏi nông dân điều chỉnh tập quán sản xuất. Sáu tháng đầu năm 2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, trong thực hiện Đề án một triệu héc ta lúa, diện tích xuống giống vụ Đông Xuân 2025 đến 2026 đạt 8.302 ha, có 9.214 hộ tham gia; 74 HTX, tổ hợp tác với 6.605 thành viên tham gia tổ chức sản xuất. Báo cáo cũng ghi nhận nhu cầu trang bị thêm máy sạ hàng và thiết bị bay không người lái cho HTX, tổ hợp tác. Như vậy, sản xuất lúa phát thải thấp không chỉ đòi hỏi thay đổi hành vi ở cấp hộ, mà còn phát sinh chi phí thiết bị, dịch vụ chung và điều phối sản xuất ở cấp cộng đồng.
Đối với cây ăn trái và dừa, chi phí CĐX thể hiện rõ qua yêu cầu truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, quản lý thuốc bảo vệ thực vật, kiểm soát chất lượng và duy trì tiêu chuẩn thị trường. Việc được cấp mã số vùng trồng mới là bước khởi đầu; để duy trì mã số, các chủ thể phải thực hiện giám sát thường xuyên, ghi chép sản xuất, kiểm soát dư lượng, tập huấn nông dân, cập nhật dữ liệu và phối hợp giữa cơ quan chuyên môn, HTX, doanh nghiệp với hộ sản xuất. Đây là nhóm chi phí khó nhìn thấy ngay trong đầu tư ban đầu, nhưng lại quyết định khả năng duy trì thị trường, nhất là đối với các ngành hàng có tỷ trọng xuất khẩu hoặc tiêu thụ qua chuỗi hiện đại.
Trong chăn nuôi và thủy sản, chi phí xanh gắn với an toàn sinh học, xử lý chất thải, kiểm soát dịch bệnh, chất lượng nước, quản lý kháng sinh, truy xuất nguồn gốc. Với chăn nuôi, xử lý chất thải, tận dụng phụ phẩm làm phân hữu cơ hoặc năng lượng sinh học đều cần vốn đầu tư ban đầu và kỹ thuật vận hành ổn định. Với thủy sản, chi phí chuyển đổi liên quan đến quản lý nước, kiểm soát đầu vào, an toàn thực phẩm, giảm thất thoát sau thu hoạch và tuân thủ yêu cầu về khai thác hợp pháp. Các khoản chi này vừa phục vụ mục tiêu môi trường, vừa là điều kiện để duy trì thị trường tiêu thụ trong bối cảnh tiêu chuẩn ngày càng chặt chẽ hơn.
Một nhóm chi phí khác thường bị đánh giá thấp là chi phí tổ chức liên kết chuỗi. CĐX khó vận hành nếu mỗi nông hộ thực hiện riêng lẻ. HTX phải đảm nhận nhiều chức năng hơn, từ quản lý vùng nguyên liệu, điều phối lịch sản xuất, hướng dẫn thành viên, lưu trữ dữ liệu, duy trì chứng nhận đến đàm phán hợp đồng với doanh nghiệp. Những nhiệm vụ này tạo ra chi phí về nhân sự, phần mềm, kiểm tra nội bộ, họp thành viên, tư vấn pháp lý và quản trị hợp đồng. Khi HTX chưa đủ năng lực, ngân hàng khó thẩm định phương án vay, doanh nghiệp thiếu đối tác ổn định, còn nông hộ khó tham gia chuỗi giá trị xanh một cách bền vững.
Ở cấp doanh nghiệp, chi phí CĐX gắn với đổi mới công nghệ, hệ thống quản lý chất lượng, xử lý chất thải, truy xuất chuỗi cung ứng, sử dụng năng lượng hiệu quả và đáp ứng tiêu chuẩn ESG của thị trường. Doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận vốn và thị trường tốt hơn nông hộ, song nếu cơ chế chia sẻ chưa rõ, chi phí tuân thủ có thể được chuyển ngược xuống vùng nguyên liệu thông qua yêu cầu chất lượng, điều kiện hợp đồng hoặc giá thu mua. Khi đó, nông hộ và HTX phải thực hiện nhiều nghĩa vụ hơn nhưng chưa chắc được hưởng phần giá trị gia tăng tương xứng.
Đối với Nhà nước, chi phí CĐX nằm ở năng lực kiến tạo nền tảng. cần chuẩn hóa dữ liệu nông nghiệp, tài nguyên và môi trường; đồng thời tăng năng lực quan trắc, cảnh báo hạn mặn, quản lý mã số vùng trồng, kiểm soát vật tư nông nghiệp, đào tạo cán bộ cơ sở và giám sát kết quả hỗ trợ. Đây là nhóm chi phí có bản chất đầu tư công cho năng lực quản trị, cần được nhìn nhận như điều kiện để tài chính xanh vận hành, thay vì chỉ là khoản chi thường xuyên của bộ máy quản lý.
Từ các phân tích trên, có thể thấy chi phí CĐX phân tán ở nhiều khâu và nhiều chủ thể. Nông hộ chịu áp lực từ thay đổi quy trình, ghi chép dữ liệu và rủi ro thu nhập. HTX phải đầu tư cho tổ chức vùng nguyên liệu, duy trì hồ sơ, chứng nhận và liên kết thị trường. Doanh nghiệp đối mặt với chi phí công nghệ, tiêu chuẩn và quản trị chuỗi cung ứng. Nhà nước cần bảo đảm dữ liệu, hạ tầng, đào tạo, quan trắc và giám sát. Điểm đáng lưu ý là phần lớn chi phí này phát sinh trước khi lợi ích thị trường được ghi nhận. Nếu thiếu cơ chế chia sẻ phù hợp, CĐX có thể làm tăng gánh nặng cho nhóm sản xuất quy mô nhỏ. Đây là cơ sở để phần tiếp theo phân tích vai trò của tài chính bền vững và ESG trong phân bổ nguồn lực cho nông nghiệp xanh.
TÀI CHÍNH BỀN VỮNG VÀ ESG TRONG CƠ CHẾ CHIA SẺ CHI PHÍ
Sau khi nhận diện các nhóm chi phí, vấn đề chính sách đặt ra là cần có công cụ đủ linh hoạt để phân bổ chi phí giữa Nhà nước, thị trường và người sản xuất. Nếu chỉ dựa vào ngân sách, nguồn lực hỗ trợ sẽ khó đáp ứng quy mô chuyển đổi của toàn ngành. Nếu để thị trường tự điều tiết, nông hộ và HTX có thể chịu phần rủi ro lớn hơn so với khả năng tài chính của mình. Vì vậy, tài chính bền vững và ESG cần được tiếp cận như một khung phân bổ nguồn lực, giúp xác định khoản chi nào cần ưu tiên, chủ thể nào cần được hỗ trợ và kết quả nào phải được đo lường.
Tài chính bền vững là cách tổ chức dòng vốn theo hướng cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, trách nhiệm môi trường và lợi ích xã hội. Cách tiếp cận này phù hợp với nông nghiệp, bởi sản xuất nông nghiệp luôn liên quan trực tiếp đến đất, nước, đa dạng sinh học, lao động nông thôn và an ninh lương thực. Một dự án nông nghiệp vì vậy không thể chỉ được đánh giá bằng khả năng sinh lời, mà cần xem xét thêm rủi ro tài nguyên, phát thải, điều kiện lao động, sinh kế nông hộ và chất lượng quản trị chuỗi giá trị.
Trong khung đó, ESG có thể trở thành ngôn ngữ chung giữa cơ quan quản lý, ngân hàng, doanh nghiệp, HTX và nông hộ. Trụ cột môi trường giúp nhận diện các yêu cầu về giảm phát thải, tiết kiệm nước, giảm hóa chất, bảo vệ đất, xử lý phụ phẩm và chất thải. Trụ cột xã hội hướng vào thu nhập của nông dân, an toàn lao động, khả năng tiếp cận vốn, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương và phân phối lợi ích trong chuỗi. Trụ cột quản trị liên quan đến dữ liệu, hợp đồng liên kết, truy xuất nguồn gốc, minh bạch sử dụng vốn và trách nhiệm của doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi.
Với điều kiện của Vĩnh Long, ESG cần được chuyển hóa thành bộ tiêu chí dễ hiểu, đo được và phù hợp từng ngành hàng. Nếu áp dụng nguyên xi các khung ESG phức tạp của doanh nghiệp lớn cho nông hộ hoặc HTX, chính sách có thể tạo thêm gánh nặng thủ tục.
Bảng 1. Liên kết ESG với công cụ tài chính trong nông nghiệp xanh
Bảng 1 cho thấy ESG có thể được sử dụng như một bộ lọc chính sách. Với mỗi nhóm chi phí, tỉnh có thể xác định chủ thể chịu tác động, công cụ hỗ trợ phù hợp và kết quả cần theo dõi. Chẳng hạn, chi phí thay đổi quy trình sản xuất và đào tạo ban đầu nên được hỗ trợ thông qua khuyến nông xanh, ngân sách sự nghiệp hoặc các chương trình mục tiêu. Chi phí đầu tư thiết bị, sơ chế, kho lạnh, tưới tiết kiệm, xử lý phụ phẩm có thể gắn với tín dụng xanh, hỗ trợ lãi suất hoặc đồng tài trợ công tư. Các khoản chi cho dữ liệu, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và đo lường kết quả cần có sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi và HTX.
Cách tiếp cận này cũng giúp phân vai rõ hơn. Nhà nước tập trung vào dữ liệu, hạ tầng, đào tạo, quy chuẩn và chi phí tạo năng lực ban đầu. Ngân hàng cung cấp vốn cho các phương án có tiêu chí xanh rõ ràng, dữ liệu kiểm chứng và cơ chế giảm rủi ro. Doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi cùng đầu tư vào vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và bao tiêu sản phẩm. HTX tổ chức sản xuất, quản lý thành viên và tiếp nhận nguồn lực ở cấp cộng đồng. Nông hộ tham gia bằng việc thay đổi quy trình, ghi chép dữ liệu, tuân thủ cam kết sản xuất xanh và duy trì liên kết. Khi các vai trò này được xác lập rõ, chi phí chuyển đổi sẽ không bị dồn về một phía, đồng thời tránh tình trạng chính sách hỗ trợ dàn trải nhưng không tạo chuyển biến trong chuỗi giá trị.
Một điểm cần lưu ý là phải phân biệt giữa giảm phát thải và tín chỉ carbon. Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ôzôn (O3) cho thấy Việt Nam đang hoàn thiện khung quản lý về giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, ở cấp địa phương, một mô hình canh tác phát thải thấp chưa tự động tạo ra tín chỉ carbon có thể giao dịch. Muốn hình thành lợi ích tài chính từ carbon, dự án phải có phương pháp đo lường, báo cáo, thẩm định và cơ chế xác nhận đủ tin cậy. Trong giai đoạn hiện nay, Vĩnh Long nên xem giảm phát thải là tiêu chí ưu tiên trong tiếp cận tài chính xanh, đồng thời từng bước chuẩn bị dữ liệu, năng lực đo lường và quy trình kiểm chứng để sẵn sàng tham gia các cơ chế carbon khi điều kiện pháp lý và thị trường chín muồi hơn.
KẾT LUẬN
CĐX trong nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long là yêu cầu tất yếu trước tác động của BĐKH, sự thay đổi của thị trường và xu hướng tài chính bền vững. Tuy nhiên, quá trình này khó đạt kết quả nếu chỉ được tiếp cận như một nhiệm vụ kỹ thuật. Vấn đề cốt lõi nằm ở cách phân bổ chi phí, rủi ro và lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị nông nghiệp. Vì vậy, câu hỏi đặt ra không dừng ở việc sản xuất xanh bằng cách nào, mà cần xác định ai cùng chi trả, chi trả cho khoản nào, bằng công cụ nào và kết quả được đo lường ra sao.
Từ thực tiễn Vĩnh Long, chi phí CĐX đang hình thành ở nhiều cấp độ, từ thay đổi quy trình sản xuất, dữ liệu, chứng nhận, đầu tư công nghệ đến tổ chức liên kết chuỗi và bảo đảm sinh kế. Cách tiếp cận tài chính bền vững và ESG giúp nhìn rõ hơn mối quan hệ giữa yêu cầu môi trường, trách nhiệm xã hội và chất lượng quản trị trong phân bổ nguồn vốn. Trong khi đó, chuyển đổi công bằng đặt ra yêu cầu bảo vệ nhóm sản xuất quy mô nhỏ, HTX còn hạn chế về năng lực và lao động nông thôn trước nguy cơ phải chịu chi phí cao hơn khả năng của mình.
Trong giai đoạn tới, Vĩnh Long cần ưu tiên cơ chế chia sẻ chi phí theo hướng lấy nông hộ và HTX làm trung tâm tổ chức sản xuất, lấy doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi làm động lực thị trường, lấy dữ liệu và tiêu chuẩn làm nền tảng quản trị, lấy tài chính xanh làm công cụ huy động nguồn lực và lấy công bằng sinh kế làm điều kiện bảo đảm tính bền vững. Khi chi phí được chia sẻ hợp lý, CĐX sẽ không còn là gánh nặng tuân thủ, mà trở thành cơ hội nâng chất lượng tăng trưởng nông nghiệp, cải thiện sinh kế nông thôn và củng cố vị thế của nông sản Vĩnh Long trong các chuỗi giá trị có trách nhiệm./.
- Chia sẻ chi phí – Thúc đẩy chuyển đổi xanh trong Nông nghiệp Vĩnh... (05/09/2026)
- Ngày khai trường – Từ tiếng trống hôm nay đến khát vọng ngày ma... (04/09/2026)
- Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai... (03/09/2026)
- Xã Hòa Hiệp phát động Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Trần Đại Nghĩa... (28/08/2026)
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Liên hiệp các Hội Khoa học... (28/08/2026)
- Đoàn kết – Đổi mới – Khát vọng – Phát triển: Hội Văn học Nghệ... (27/08/2026)
- Tưới Ngập Khô Xen Kẽ Trong Sản Xuất Lúa: Giải Pháp Giảm Phát Thải... (26/08/2026)